Nhân trung bạch là gì?

Nhân trung bạch là cặn của nước tiểu phơi khô. Vị thuốc này đã được sử dụng từ xa xưa.Theo tài liệu cổ, nhân trung bạch vị mặn tính bình, mùi khai, không độc. Vào 3 kinh: can, tam tiêu và bàng quang. Có tác dụng thanh nhiệt, giáng hỏa, khứ ứ, cầm máu. Thường dùng trị những bệnh: cổ họng sưng đau, chảy máu cam, thiên đầu thống, đau răng đau lợi, loét lưỡi, loét niêm mạc, cam tẩu mã, ho do phế nhiệt…

Liều dùng: ngày dùng 4 – 7g dưới dạng thuốc sắc hoặc tán bột. Dùng ngoài liều lượng có thể tăng lên. Có thể dùng độc vị hoặc phối hợp cùng những vị khác.

 

Nhân trung bạch được dùng làm thuốc chữa bệnh trong các trường hợp:

 

– Trị loét lưỡi: Nhân trung bạch 0,5g, nung kỹ tán bột, để riêng. Lá đinh lăng (dùng lá non) 15g, bỏ vào cối giã nhỏ. Hai thứ trộn đều, đưa miếng thuốc vào miệng ngậm lại, sau ít phút thì nhổ đi.

 

Bài thuốc uống:

 

Nhân trung bạch 4g, hoàng liên 10g, lạc tiên 12g, bồ công anh 12g, hạt muồng (sao) 10g, liên nhục 12g, tang diệp 15g. Sắc uống ngày 1 thang. Công dụng: tả tâm hỏa, chống viêm.

 

– Trị cam tẩu mã: Nhân trung bạch 1g nung đỏ, sau đó tán bột, lấy mật ong 10ml. Hai thứ trộn đều, dùng thuốc này bôi vào nơi cam tẩu mã. Trước khi bôi thuốc lấy lá tía tô nấu nước rửa sạch nơi bị tổn thương.

 

– Trị dưới bàn chân bị rỗ (còn gọi hà), ra mồ hôi, đau buốt: nhân trung bạch sao kỹ tán bột, rắc vào.

 

– Trị ho khan do phế nhiệt, hơi thở nóng: nhân trung bạch 4g (sao kỹ), bạch mao căn 16g, cát cánh 12g, mạch môn 12g, rau dấp cá 16g, tang diệp 16g, lá xương sông 16g, rau má 16g, cam thảo bắc 12g. Sắc uống ngày 1 thang chia 3 lần.

 

Theo – Sức khỏe đời sống